Skip to Content

ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC

ĐÌNH THI PHỔ - Di tích kiến trúc nghệ thuật đầu tiên ở Mộ Đức được xếp hạng

16/07/2014

Trong mỗi người Việt Nam, khi nhắc đến “đình làng” đã gợi cho ta nhớ đến hình ảnh của làng quê với cây đa, giếng nước, sân đình, vì nơi đây gắn bó thân quen với mỗi chúng ta. Đình làng như ngôi nhà chung của cộng đồng, là nơi hội họp, sinh hoạt và thường diễn ra các hoạt động hội hè của dân làng.

  Đình Thi Phổ còn có tên gọi là dinh Trung Hòa thuộc thôn 4, xã Đức Tân. Tên gọi dinh Trung Hòa có nguồn gốc từ sau năm 1930, vì khi một số người dân ở gần cầu Dắt Dây thuộc làng Thi Phổ Nhất đang xây dựng dinh Trung Hòa thì bị chiến tranh tàn phá nên công trình bị hoãn lại. Theo các vị cao niên trong làng: bộ khung bê tông, cốt thép mà hiện nay chúng ta thấy bên Quốc lộ 1A thuộc xã Đức Tân (phía Tây Bắc cầu Dắt Dây) chính là vị trí xây dựng dinh Trung Hòa. Vì trước đó, nhà thờ tộc họ Phạm đã làm bức Hoành Phi chữ Hán đề là Dinh Trung Hòa để phúng tặng sau khi công trình xây dựng xong thì đưa về thờ, thế nhưng công trình lại dở dang giữa chừng nên bức Hoành Phi đó được đưa về đình Thi Phổ. Vì vậy, sau này người dân quen gọi đình Thi Phổ là dinh Trung Hòa.

  Có lẽ cũng như những đình làng khác, lúc đầu đình Thi Phổ chỉ là thiết chế văn hóa tín ngưỡng, về sau đình làng còn có chức năng hành chính, vì mọi công việc hành chính của làng như: từ việc đón người đỗ đạt, khao vọng quan trên, xét xử các tranh chấp, phạt vạ, rồi thu tô thuế đến việc bắt lính… đều được tiến hành tại đây. Càng về sau, yếu tố tín ngưỡng, tâm linh trội hơn khiến chức năng hành chính càng mờ nhạt dần, vì ngoài việc tổ chức các hội hè của làng, dường như bất cứ ngôi đình nào cũng thờ Thành Hoàng và đây là yếu tố bắt buộc, Thành Hoàng được cho là có công lao to lớn đối với làng và được dân làng suy tôn. Ngoài ra, đình còn thờ các vị thánh, thần khác do dân làng tôn thờ, tất cả được rước vào đình thành một tập thể siêu thần, do đó mỗi khi bước chân vào đình thường có cảm xúc linh thiêng, tôn nghiêm khó tả giống như mỗi khi đến cửa đền chùa, giúp có thêm sức mạnh và niềm tin, niềm hy vọng cho mỗi ai khi đến chiêm bái, thăm viếng đình làng.   Trước đây, tại ngôi Đình này ngoài việc tổ chức lễ cầu an, lễ tế thần và các hoạt động tín ngưỡng, dân làng còn tổ chức các trò chơi dân gian như đấu vật, kéo co, chọi gà, đánh đu... để già, trẻ, gái, trai náo nức đến sân đình mở hội, vui chơi và hội làng cũng là dịp để thực hiện công tác khuyến học, khuyến tài, tuyên dương, khích lệ con em trong làng học hành đỗ đạt. Đặc biệt, theo nhận định của các nhà chuyên môn, tài sản quý giá nhất còn lưu giữ tại đình Thi Phổ là 24 sắc phong của các vua triều Nguyễn phong tặng cho các vị thần: Thần Hoàng Bổn Xứ, Bạch Mã Thái Giám, Thiên Y a Na, Nam Hải Đại Tướng Quân, Quan Thánh Đế Quân. Trong đó, 10 đạo sắc của làng Thi Phổ, 14 đạo sắc của làng Thiết Trường và thần sắc sớm nhất vào năm Tự Đức thứ 5 (1852) và sắc thần gần đây nhất là năm Duy Tân thứ 3 (1910).   Theo hồ sơ khảo tả của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, Đình Thi Phổ có kết cấu kiến trúc hình chữ Đinh, mang dáng dấp kiến trúc thời Nguyễn, được phản ánh qua kỹ thuật chạm khắc gỗ như các mô típ dây leo thực vật trên khám thờ, hình tượng trụ đội, choãi cánh dơi, đế con tôm trên các vì kèo, đắp nổi hoa văn, chim thú rất tinh xảo trên cổng đình, đỉnh mái và các góc mái của tòa đình. Tỉ mĩ và độc đáo là các họa tiết, nghệ thuật trang trí đắp nổi trúc tước, tùng lộc, cúc trĩ hay lưỡng long chầu bình hồ lô, hình tượng con dơi, chim phượng hoàng đến nghệ thuật đắp nổi tượng hình con ly, con hổ trên bức bình phong, ngũ phúc lâm môn và một số đôi liễn đối ghép bằng sành sứ... mang ý nghĩa phước lộc thọ trường tồn, vĩnh cửu. Dựa vào nội dung những sắc phong và hiện trạng kiến trúc của đình Thi Phổ, có thể nhận định công trình được xây dựng vào thời nhà Nguyễn (đầu thế kỷ 19), là công trình tín ngưỡng mang tính cố kết cộng đồng, gắn liền với lịch sử khai phá lập làng của các bậc tiền hiền, hậu hiền ở vùng đất Mộ Đức. Di tích còn là nơi lưu giữ nhiều hiện vật, sắc phong của triều Nguyễn rất có giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật.    Được biết, để bảo tồn và tránh việc di tích bị xâm hại, từ nhiều năm trước đây Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi (nay là Sở VHTT&DL) đã chỉ đạo Bảo tàng Tổng hợp tỉnh phối hợp với địa phương tổ chức khảo sát, điều tra, thu thập các cứ liệu xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích, nhưng với nhiều lý do khác nhau nên việc lập hồ sơ di tích gặp nhiều khó khăn. Vì đây là ngôi Đình được xây dựng khá sớm nên rất có giá trị và là một trong những đình làng nổi tiếng còn lại hiện nay ở Quảng Ngãi cần phải được bảo tồn, năm 2013 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục chỉ đạo lập hồ sơ và đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi ra quyết định xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh (tại Quyết định số 582/QĐ-UBND ngày 18/4/2014). Đình Thi Phổ là Di tích kiến trúc nghệ thuật đầu tiên ở Mộ Đức được xếp hạng, đây là điều kiện để các cấp, các ngành và người dân thể hiện trách nhiệm quản lý, bảo vệ, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích. Trước mắt, xã Đức Tân cần khẩn trương thực hiện công tác quản lý di tích theo phân cấp tại Quyết định số 28/2013/QĐ-UBND ngày 24/6/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến những quy định pháp luật về bảo tồn, phát huy giá trị di tích tại địa phương, vận động, giáo dục nhân dân nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ, xem đây là di sản quý báu và niềm tự hào của nhân dân địa phương. Đồng thời, thành lập Ban quản lý di tích cấp xã, xây dựng kế hoạch bảo vệ, bảo quản các hiện vật, huy động các nguồn lực để tu bổ, chống xuống cấp khẩn cấp các hạng mục có nguy cơ biến dạng. Riêng Ban tế tự Đình, từ trước giờ trông coi, chăm sóc di tích rất tốt, thời gian đến cần tiếp tục phát huy và duy trì tổ chức các hoạt động lễ hội như từ trước đến nay, vận động bà con nhân dân giữ vệ sinh môi trường, nhất là các hộ trong khu vực chung quanh di tích. Một vấn đề hết sức cần thiết, đó là cần cắt cử người thường xuyên mở cửa đón bà con gần xa và du khách thập phương đến chiêm bái, tham quan đình làng. Nếu như vậy mới có thể vừa bảo tồn di sản, vừa phát huy được giá trị của di tích./. Bài và ảnh: Việt Cường

 

Related news